Tin tức | Nghiên cứu cho thấy vô sinh nam do chính người bệnh khai báo có thể liên quan đến nguy cơ ung thư vú xâm lấn



Tin tức | Nghiên cứu cho thấy vô sinh nam do chính người bệnh khai báo có thể liên quan đến nguy cơ ung thư vú xâm lấn

Tin tức | Nghiên cứu cho thấy vô sinh nam do chính người bệnh khai báo có thể liên quan đến nguy cơ ung thư vú xâm lấn


Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí truy cập mở Breast Cancer Research cho thấy tình trạng vô sinh do nam giới tự khai báo có thể liên quan đến nguy cơ ung thư vú xâm lấn. Do một nhóm nghiên cứu từ The Institute of Cancer Research dẫn đầu, nghiên cứu đã khảo sát 1,998 nam giới mắc ung thư vú tại Anh và Wales, rồi so sánh với 1,597 nam giới không có tiền sử ung thư.


Trong nhóm mắc ung thư, 112 nam giới (5.6%) cho biết mình bị vô sinh, so với 80 nam giới (5.0%) trong nhóm đối chứng. Tỷ lệ nam giới không có con cũng cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh nhân ung thư (383, tương đương 19.2%) so với nhóm đối chứng (174).


Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào ung thư vú xâm lấn, trong đó tế bào ung thư lan ra ngoài vị trí ban đầu. Trong số 1,998 bệnh nhân ung thư vú, 47 (2.6%) cho biết bị vô sinh, so với 22 (1.4%) trong nhóm đối chứng. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự khác biệt có ý nghĩa thống kê này gợi ý mối liên quan có thể có giữa vô sinh nam và ung thư vú xâm lấn.


Đáng chú ý, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng đáng kể về mối liên hệ giữa nguy cơ ung thư vú với “vô sinh ở bạn đời” hoặc “vô sinh không rõ nguyên nhân”. Tương tự, dữ liệu không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa vô sinh và ung thư vú không xâm lấn, trong đó tế bào ung thư chưa lan rộng.


Đồng tác giả nghiên cứu, Dr. Michael Jones, cho biết: “Dữ liệu của chúng tôi cho thấy vô sinh nam có thể liên quan đến ung thư vú xâm lấn. Ung thư vú hiếm gặp ở nam giới và nguyên nhân vẫn chưa được hiểu rõ, một phần vì các nghiên cứu trước đây có quá ít người tham gia. Do đó, chúng tôi khuyến nghị tiếp tục nghiên cứu mối liên quan có thể có này, đặc biệt là các cơ chế sinh lý có thể liên quan, chẳng hạn rối loạn chức năng nội tiết.”


Để xử lý các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích độ nhạy, loại trừ những người uống nhiều rượu, hút thuốc, có tiền sử gia đình mắc ung thư vú hoặc mắc bệnh gan. Những yếu tố này không ảnh hưởng đáng kể đến kết luận. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa kiểm soát đầy đủ tình trạng béo phì. Một số phân tích loại trừ nam giới mắc hội chứng Klinefelter (11), có tiền sử ung thư (9), béo phì nặng (29) hoặc bệnh tinh hoàn (169), cùng với 3 người được xác định là nữ khi sinh.


Các nhà nghiên cứu lưu ý những hạn chế của việc dựa vào tình trạng vô sinh do người bệnh tự khai báo. Khả năng sinh sản chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố liên quan đến cả hai bạn đời; nam giới có thể không khai báo những người con ngoài hôn nhân hoặc có thể đã lựa chọn không sinh con. Việc thiếu hồ sơ y tế cũng làm tăng khả năng sai lệch do hồi tưởng. Nhóm nghiên cứu khuyến nghị đối chiếu tình trạng vô sinh với hồ sơ y tế trong các nghiên cứu tương lai để nâng cao độ chính xác của dữ liệu.


Bài báo “Infertility and risk of breast cancer in men: a national case–control study in England and Wales” được đăng trên Breast Cancer Research vào 2022. DOI: 10.1186/s13058-022-01517-z.


Nguồn bài viết:

Tổng hợp trên mạng

Tác giả LinkedIVF TeamXuất bản 2025-06-08
本文使用 AI 輔助整理;LinkedIVF 尚未記錄本篇的編輯審核,不構成醫療建議。
Nội dung này chỉ nhằm cung cấp thông tin và không phải là tư vấn y tế. Hãy trao đổi với bác sĩ được cấp phép. Hướng dẫn nội dung và chính sách biên tập

Có thể bạn cũng quan tâm

Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn sớm

Nhập thông tin chi tiết của bạn và chúng tôi sẽ liên hệ với bạn sớm nhất có thể.
  • Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ (PGT) và IVF
    IVF sử dụng noãn hoặc tinh trùng hiến tặng
    Thông tin về sinh sản có sự tham gia của bên thứ ba (tuân theo pháp luật địa phương)
    Khác