Tin tức | Liệu liệu pháp mRNA có thể mang lại hy vọng cho tổn thương niêm mạc tử cung?



Tin tức | Liệu liệu pháp mRNA có thể mang lại hy vọng cho tổn thương niêm mạc tử cung?


Một nhóm thuộc Trường Y Johns Hopkins gần đây báo cáo trên Nature Nanotechnology về lần đầu tiên đưa có đích RNA thông tin điều trị (mRNA) vào niêm mạc tử cung ở chuột, giúp cải thiện đáng kể khả năng làm tổ của phôi. Công trình này mở ra một hướng tiếp cận tiềm năng cho một số dạng vô sinh do niêm mạc tử cung.


Petal material_laboratory assistant in food quality testing; cell culture experiment_170977187.jpg


Trung tâm Nanomedicine Johns Hopkins và Viện Mắt Wilmer đã phát triển một hệ thống hạt nano lipid biến đổi (LNP) có khả năng đưa mRNA vào niêm mạc tử cung an toàn và có kiểm soát. Cấu trúc và chức năng bất thường của niêm mạc tử cung góp phần gây ra nhiều dạng vô sinh nữ, và phôi có thể không làm tổ ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) như IVF.


Tiến sĩ Laura Ensign, giáo sư nhãn khoa tại Johns Hopkins và trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết hiện chưa có phương pháp điều trị nào được FDA phê duyệt và có hiệu quả cho những bệnh nhân vẫn không thể thụ thai bằng ART. “Nghiên cứu của chúng tôi đặt nền móng cho việc tìm hiểu một tiêu chuẩn chăm sóc hoàn toàn mới.”


Liệu pháp mRNA cung cấp cho tế bào hướng dẫn chức năng để tạo ra các protein cụ thể mà không làm thay đổi DNA trong nhân. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu ung thư và vaccine mRNA phòng COVID-19. Tuy nhiên, mRNA dễ phân hủy và có thể nhanh chóng bị đào thải hoặc gây độc tính toàn thân, khiến việc đưa thuốc tại chỗ hiệu quả với ít tác dụng bất lợi trở thành thách thức trọng tâm.


Hoạt chất điều trị được mã hóa là yếu tố kích thích tạo cụm dòng bạch cầu hạt-đại thực bào (GM-CSF), được cho là giúp tăng độ dày niêm mạc tử cung và cải thiện sự bám dính của phôi. GM-CSF tái tổ hợp có thể được sản xuất hàng loạt, nhưng thời gian bán hủy ngắn và sự phân bố ngoài đích làm hạn chế tiềm năng lâm sàng.


LNP-mRNA thông thường ban đầu lan đến gan và lá lách sau khi được đưa vào tử cung, gây độc tính ngoài đích rõ rệt. Nhóm nghiên cứu đã bổ sung peptide RGD (arginine-glycine-aspartic acid) lên bề mặt LNP. RGD gắn với các thụ thể integrin biểu hiện mạnh ở niêm mạc tử cung trong cửa sổ làm tổ (WOI), cải thiện đáng kể khả năng nhắm đích vào niêm mạc tử cung.


Sau khi truyền vào tử cung trong WOI, LNP-mRNA biến đổi RGD duy trì biểu hiện GM-CSF ở niêm mạc tử cung chuột ít nhất 24 giờ. Ở thời điểm 8 giờ, nồng độ này gần gấp ba lần so với tiêm trực tiếp protein tái tổ hợp. GM-CSF trong máu thấp hơn 60 lần ở nhóm LNP-mRNA, cho thấy mức phơi nhiễm toàn thân và nguy cơ độc tính cơ quan tiềm ẩn đã giảm đáng kể.


Trong mô hình chuột vô sinh do tổn thương niêm mạc tử cung ở người, số vị trí làm tổ trung bình ở chuột không điều trị ít hơn 67%. Điều trị bằng LNP-mRNA có đích khôi phục khả năng làm tổ gần bằng mức của nhóm chứng khỏe mạnh, không ghi nhận độc tính rõ ràng ở tử cung hoặc các cơ quan chính khác.


Mặc dù chu kỳ kinh ở người khác với chuột, Ensign lưu ý rằng cửa sổ làm tổ được bảo tồn cao giữa các loài động vật có vú, đem lại tiềm năng chuyển giao cho người của các kết quả này.


Nhóm nghiên cứu dự định thử nghiệm thêm các cytokine, yếu tố tăng trưởng và phân tử khác trên nền tảng này để cải thiện kết quả sinh sản. Hệ thống này cũng có thể hỗ trợ nghiên cứu lạc nội mạc tử cung, ung thư nội mạc tử cung và các rối loạn niêm mạc tử cung khác.


Nghiên cứu nhận tài trợ từ Viện Y tế Quốc gia (NIH) và các nguồn khác. Các tác giả công bố rằng Đại học Johns Hopkins đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho công nghệ LNP-mRNA và không báo cáo lợi ích cạnh tranh nào khác.


Nguồn bài viết:

Tổng hợp trực tuyến

Tác giả LinkedIVF TeamXuất bản 2026-01-25
本文使用 AI 輔助整理;LinkedIVF 尚未記錄本篇的編輯審核,不構成醫療建議。
Nội dung này chỉ nhằm cung cấp thông tin và không phải là tư vấn y tế. Hãy trao đổi với bác sĩ được cấp phép. Hướng dẫn nội dung và chính sách biên tập

Có thể bạn cũng quan tâm

Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn sớm

Nhập thông tin chi tiết của bạn và chúng tôi sẽ liên hệ với bạn sớm nhất có thể.
  • Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ (PGT) và IVF
    IVF sử dụng noãn hoặc tinh trùng hiến tặng
    Thông tin về sinh sản có sự tham gia của bên thứ ba (tuân theo pháp luật địa phương)
    Khác